Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với đối tượng được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo
Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo ra nhiều cơ hội mới trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo và đổi mới công nghệ. Tuy nhiên, việc sử dụng AI để tạo ra các đối tượng sở hữu công nghiệp cũng đặt ra yêu cầu phải xác định rõ điều kiện bảo hộ và vai trò của con người trong quá trình sáng tạo.

Theo khoản 1 Điều 10a Nghị định số 65/2023/NĐ-CP (được bổ sung bởi Nghị định số 100/2026/NĐ-CP), quyền sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng được tạo ra có sử dụng hệ thống AI chỉ được xác lập nếu con người có đóng góp đáng kể vào quá trình sáng tạo. Đồng thời, người có đóng góp đáng kể được xác định là tác giả theo quy định tại khoản 1 Điều 122 Luật Sở hữu trí tuệ.
Tại khoản 2 Điều 10a Nghị định số 100/2026/NĐ-CP đã quy định: con người được coi là có đóng góp đáng kể vào việc sáng tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong trường hợp con người thực hiện toàn bộ các hoạt động sau:
- Xác định vấn đề cần giải quyết, trong đó phải bao hàm cả ý tưởng về giải pháp, không chỉ là mô tả vấn đề chung chung;
- Lựa chọn dữ liệu đầu vào, mục tiêu, ràng buộc, tham số từ ý tưởng sáng tạo của con người, không chỉ dựa trên dữ liệu sẵn có hoặc gợi ý tự động từ hệ thống trí tuệ nhân tạo;
- Đánh giá, lựa chọn, tinh chỉnh, thử nghiệm (nếu có) và diễn giải kết quả do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra, trong đó việc tinh chỉnh phải làm thay đổi cấu trúc hoặc chức năng cốt lõi của kết quả hệ thống trí tuệ nhân tạo để tạo ra giá trị mới;
- Quyết định kết quả cuối cùng là sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí yêu cầu được bảo hộ.
Quy định này cho thấy AI được xem là công cụ hỗ trợ quá trình sáng tạo, trong khi con người vẫn giữ vai trò trung tâm trong việc hình thành ý tưởng, kiểm soát, hoàn thiện và quyết định sản phẩm sáng tạo cuối cùng. Chỉ những đối tượng đáp ứng đầy đủ các điều kiện này mới được xem xét xác lập quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật.
Đối với các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hoặc thiết kế bố trí được tạo ra có sử dụng AI nhưng không đáp ứng điều kiện về sự đóng góp đáng kể của con người, các đối tượng này không được xác lập quyền sở hữu công nghiệp. Tuy nhiên, người tạo ra vẫn có quyền sử dụng hoặc cho phép người khác sử dụng các kết quả đó, với điều kiện việc sử dụng không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác.
Đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác như nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và bí mật kinh doanh được tạo ra hoặc có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo, việc bảo hộ vẫn được thực hiện nếu đáp ứng các điều kiện của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Việc có sử dụng AI không làm thay đổi các điều kiện bảo hộ hiện hành đối với các đối tượng này.
Việc hoàn thiện quy định về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng được tạo ra có sử dụng trí tuệ nhân tạo góp phần tạo hành lang pháp lý phù hợp với xu hướng phát triển công nghệ, khuyến khích đổi mới sáng tạo, đồng thời bảo đảm cân bằng giữa việc khai thác hiệu quả công nghệ AI và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong hoạt động sở hữu trí tuệ./.
Thảo Linh
Phòng QLCN&TĐC

