Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn

Sở Khoa học và Công nghệ

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Kinh tế số hướng tới đóng góp 30% GDP: Dữ liệu và AI trở thành động lực phát triển mới

Ngày 09/6/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1033/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 - 2030. Chương trình được xây dựng nhằm phát triển kinh tế số và xã hội số trở thành động lực quan trọng thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và chất lượng cuộc sống của người dân trong kỷ nguyên số.

Một trong những điểm nổi bật của Chương trình là xác lập quan điểm phát triển mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo đó, dữ liệu được xác định là tư liệu sản xuất chính, trí tuệ nhân tạo là công cụ sản xuất chủ yếu và môi trường số là môi trường phát triển an toàn, tin cậy. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thông qua hệ thống thể chế, cơ chế chính sách đồng bộ, hạ tầng số hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao; doanh nghiệp và người dân là trung tâm, là chủ thể sáng tạo và là đối tượng thụ hưởng các thành quả của quá trình phát triển kinh tế số và xã hội số.

Chương trình đặt mục tiêu xây dựng nền kinh tế số năng động dựa trên nền tảng số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; từng bước hình thành phương thức sản xuất mới, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và phát triển bền vững. Đồng thời, kiến tạo xã hội số văn minh, an toàn và bao trùm, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận và thụ hưởng các thành quả của khoa học công nghệ và chuyển đổi số.

Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu đưa tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số đạt khoảng 30% GDP; hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số; hình thành tối thiểu 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến; phát triển và đưa vào sử dụng tối thiểu 5 sàn dữ liệu; giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp 30 lần GDP. Cùng với đó, tỷ trọng quy mô đào tạo giáo dục đại học các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán (STEM) đạt 40%.

Đối với xã hội số, Chương trình đặt mục tiêu 100% hộ gia đình được tiếp cận mạng internet băng rộng cáp quang với tốc độ 1Gb/s; mạng băng rộng di động 5G đạt tốc độ tối thiểu 100Mb/s và phủ sóng 99% dân số; 100% công dân Việt Nam từ 14 tuổi trở lên có căn cước và tài khoản định danh điện tử; 95% dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc tổ chức được phép khác; trên 70% dân số từ 18 tuổi trở lên có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân; tối thiểu 10 triệu lượt người trong độ tuổi lao động được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cơ bản.

Để thực hiện các mục tiêu trên, Chương trình xác định hoàn thiện thể chế và hành lang pháp lý là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó trọng tâm là hoàn thiện thể chế về dữ liệu; phát triển kinh tế dữ liệu; ban hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các mô hình kinh tế mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; thúc đẩy thị trường số cạnh tranh lành mạnh; hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn phù hợp với thông lệ quốc tế; tăng cường điều phối liên ngành và hiệu quả thực thi. Xây dựng, cập nhật và công bố hệ thống chỉ tiêu thống kê, phương pháp đo lường, cơ chế báo cáo và chia sẻ dữ liệu thống kê về kinh tế số.

Song song với đó là phát triển hạ tầng số nhanh, đồng bộ, hiện đại, an toàn và bền vững, bảo đảm kết nối số toàn dân và tạo nền tảng cho phát triển kinh tế số, xã hội số. Chương trình chú trọng phát triển hạ tầng băng rộng, mạng 5G và các thế hệ mạng di động tiếp theo; hạ tầng dữ liệu, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, hạ tầng tính toán hiệu năng cao và hạ tầng phục vụ trí tuệ nhân tạo theo mô hình dịch vụ.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình là phát triển kinh tế dữ liệu trở thành nguồn lực mới và động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế số. Theo đó, tập trung xây dựng, phát triển các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành; thúc đẩy chia sẻ, kết nối dữ liệu giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân; tạo điều kiện khai thác dữ liệu mở, dữ liệu được chia sẻ và dữ liệu đã được xử lý, ẩn danh theo quy định của pháp luật để phát triển sản phẩm, dịch vụ số. Đồng thời hoàn thiện cơ chế, chính sách về tài sản dữ liệu, quyền sở hữu, khai thác và phân phối giá trị dữ liệu; phát triển thị trường dữ liệu, hạ tầng dữ liệu, công nghiệp dữ liệu và các nền tảng khai thác, phân tích dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Bên cạnh đó, Chương trình xác định thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong các ngành, lĩnh vực nhằm nâng cao năng suất, tối ưu hóa vận hành và đổi mới phương thức ra quyết định trên dữ liệu, bảo đảm các nguyên tắc về đạo đức AI, an toàn và bảo vệ quyền riêng tư. Các bộ, ngành được yêu cầu xác định và triển khai những bài toán trọng điểm có thể giải quyết hiệu quả bằng AI để thí điểm, đánh giá và nhân rộng các mô hình thành công. Chương trình cũng nhấn mạnh việc hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận và ứng dụng AI trong sản xuất, kinh doanh, góp phần hình thành hệ sinh thái ứng dụng AI rộng khắp trong nền kinh tế và xã hội.

Cùng với phát triển dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, Chương trình đặc biệt quan tâm đến phát triển nguồn nhân lực số, công dân số và doanh nghiệp công nghệ số. Các nhiệm vụ về phổ cập năng lực số cho người dân, đào tạo nhân lực công nghệ số chất lượng cao, phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam làm chủ các công nghệ chiến lược, phát triển sản phẩm và dịch vụ số “Make in Vietnam” được xác định là những yếu tố quan trọng bảo đảm thành công của quá trình phát triển kinh tế số và xã hội số.

Chương trình cũng thúc đẩy phát triển kinh tế số và xã hội số trong nhiều ngành, lĩnh vực như nông nghiệp, tài nguyên môi trường, du lịch, văn hóa, thương mại, logistics, công nghiệp chế biến chế tạo, năng lượng, giáo dục, lao động, an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội, y tế, xây dựng và tài chính - ngân hàng. Qua đó tạo điều kiện để công nghệ số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo được ứng dụng sâu rộng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sản xuất, kinh doanh và chất lượng dịch vụ trong toàn bộ nền kinh tế.

Với 115 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cùng hệ thống mục tiêu cụ thể đến năm 2030, Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 - 2030 được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng quan trọng để đưa khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển chủ yếu của đất nước. Đây cũng là bước đi quan trọng nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền kinh tế số năng động, xã hội số hiện đại, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo động lực cho tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.

Nguyễn Thủy – Trung tâm Công nghệ số