Skip to main content
Quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025 
Chế độ ban đêm In trang Xuất PDF Đọc nội dung
-A A +A

Kết quả nghiên cứu thử nghiệm một số giống đào nhập nội triển vọng tại xã Công Sơn, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn

Tóm tắt: Kết quả nghiên cứu thử nghiệm khả năng thích ứng của một số giống đào nhập nội trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn cho thấy các giống đào nhập nội thử nghiệm đều thích hợp với khí hậu sinh thái vùng trồng, sinh trưởng và phát triển tốt qua đó, góp phần làm phong phú thêm sản vật cho vùng du lịch Mẫu Sơn và tăng hiệu quả kinh tế cho người dân địa phương.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Cây Đào (Prunus persica) là một loại cây ăn quả lâu năm, rụng lá mùa đông, trồng chủ yếu ở các vùng ôn đới nóng và ở các nước á nhiệt đới. Ngoài Trung Quốc, Mỹ, Italy, Pháp, Nhật, Achentina là những nước trồng đào nhiều nhất (Vũ Công Hậu, 1996). Ở nước ta đào được trồng nhiều ở các địa phương như: Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Lạng Sơn (Hoàng Ngọc Đường và ctv, 1996; Lê Đức Khánh, 2005). Quả đào không những sử dụng quả để ăn tươi, hoa đào còn được người dân miền Bắc Việt Nam coi là biểu tượng hoa xuân, được trưng bày trong dịp Tết Nguyên đán.

Những năm gần đây một số giống đào Nectarin, A2-2-29, B115 đã được nhập về trồng khảo nghiệm cho kết quả tốt ở các địa phương như Tràng Định, Lạng Sơn, Bắc Hà - SaPa, Mộc Châu - Sơn La, Đồng Văn - Hà Giang (Đỗ Sỹ An và ctv, 2017; Vũ Mạnh Hải và ctv, 2016).

Lạng Sơn nổi tiếng với sản phẩm đào Mẫu Sơn với nhiều đặc điểm quý như: quả to, thịt quả màu vàng, phần thịt giáp hạt có màu đỏ, cùi giòn, vị ngọt thanh. Đào Mẫu Sơn thường ra hoa sau Tết Nguyên đán và thu hoạch vào tháng 7 hàng năm. Việc nghiên cứu thử nghiệm một số giống đào nhập nội tại Cao Lộc, Lạng Sơn có ý nghĩa quan trọng trong việc bổ sung các giống đào nhập nội vào cơ cấu giống cây ăn quả của tỉnh, làm phong phú đa dạng sản phẩm, rải vụ, kéo dài thời gian thu hoạch, làm tăng hiệu quả kinh tế cho người dân địa phương. Trong thời gian 2018 - 2020, Viện Nghiên cứu Rau quả đã tiến hành khảo nghiệm một số giống đào nhập nội Nectarin, A2-2-29, B115 tại xã Công Sơn, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2. Vật liệu nghiên cứu

- Giống đào nhập nội: A2-2-29; B115; Nectarin. Đây là những giống được nhập nội từ Đài Loan và Úc.

- Giống đào địa phương: Đào Mẫu Sơn (giống đối chứng).

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm

- Quy mô: 02 ha (đào Mẫu Sơn 01 ha (500 cây); đào nhập nội 01 ha (500 cây, cụ thể  200 cây đào A2-2-29; 180 cây đào B115; 120 cây đào Nectarin).

- Thiết kế mô hình: Các giống đào được bố trí trên sườn đồi núi, các đường đồng mức. Mật độ trồng: 4 m x 5 m (tương ứng 500 cây/ha).

+ Đào hố, bón lót: Đào hố kích thước 0,8 m x 0,8 m x 0,8 m. Bón lót cho mỗi hố 10 kg phân hữu cơ + 3 kg phân vi sinh + 1 kg super lân + 1 kg vôi bột.

+ Thời vụ trồng: Trồng 15 - 16/6/2018.

+ Chăm sóc: theo quy trình của Viện Nghiên cứu Rau quả.

2.2.2. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

- Chiều cao cây (m); Đường kính tán (m); Đường kính gốc (cm).

- Kích thước các đợt lộc: Chiều dài (cm), đường kính (cm), số lá/cành lộc (lá).

- Thời gian ra hoa, nở rộ, kết thúc nở hoa, thời gian thu hoạch.

- Tỷ lệ cành ra hoa (%) = (Số cành lộc ra hoa/Số cành lộc theo dõi) x 100.

- Tỷ lệ đậu quả (%) = (Số quả đậu/số hoa theo dõi) x 100.

- Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất cá thể (kg/cây).

- Các chỉ tiêu về quả: Khối lượng quả, Chiều cao quả; Đường kính quả, độ Brix.

- Tỷ lệ phần ăn được (%) = (Khối lượng thịt quả/Khối lượng quả) x 100.

 - Thành phần sâu bệnh chính và mức độ gây hại.

Các chỉ tiêu theo dõi được theo dõi trên 10 cây/1 giống/1 lần nhắc tùy thuộc vào các chỉ tiêu theo dõi khác nhau.

2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu

          Số liệu sau đó được được phân tích, xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel và IRRISTAT ver 5.0.

            2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 8 năm 2020 tại xã Công Sơn, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Khả năng sinh trưởng của các giống đào nhập nội trồng tại xã Công Sơn, huyện Cao Lộc

Bảng 1. Khả năng sinh trưởng của các giống đào nhập nội

Chỉ tiêu

 

Giống đào

 Sau trồng 6 tháng

Sau trồng 12 tháng

Sau trồng 18 tháng

Sau trồng 24 tháng

CC cây (cm)

ĐK tán (cm)

ĐK gốc (cm)

CC cây (cm)

ĐK tán (cm)

ĐK gốc (cm)

CC cây (cm)

ĐK tán (cm)

ĐK gốc (cm)

CC cây (cm)

ĐK tán (cm)

ĐK gốc (cm)

Mẫu Sơn

115,6

135,4

1,6

135,1

145,2

2,25

167,6

153,4

2,38

179,3

168,5

6,78

Nectarin

110,5

111,7

1,1

130,3

123,3

1,72

153,7

150,6

2,04

170,2

165,5

6,10

A2-2-29

99,5

122,6

1,3

131,4

131,9

1,83

158,1

154,2

2,03

168,5

165,2

5,85

B115

104,3

126,7

1,1

127,6

139,8

1,75

156,7

150,4

2,13

167,1

166,4

6,11

LSD0,05

2,1

2,28

0,7

1,45

1,94

0,68

1,83

1,3

0,1

1,61

2,25

0,51

CV (%)

9,0

7,9

10,8

9,6

7,7

11,8

9,6

8,4

9,4

10,5

9,7

7,2

Ghi chú: Thời gian trồng 15 - 16/6/2018; Thời gian theo dõi 9/2018; 12/2018; 6/2019; 12/2019; 6/2020.

Kết quả bảng 1 cho thấy: Các giống đào nhập nội đều có khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái tại huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Sau 2 năm trồng các giống sinh trưởng khỏe, chiều cao cây đạt 167,1 - 170,2 cm, đường kính tán đạt 165,2 - 166,4 cm, đường kính gốc đạt 5,85 - 6,11 cm, chỉ tiêu sinh trưởng giữa các giống nhập nội không có sai khác ở tất cả thời gian theo dõi. Giống đào Mẫu Sơn vốn đã thích nghi với điều kiện sinh thái vùng trồng nên sinh trưởng tốt hơn so với các giống đào nhập nội. Chiều cao cây 179,3 cm; đường kính tán đạt 168,5 cm; đường kính gốc đạt 6,78 cm.

Description: E:\ĐT DAO MAU SON. 2017\ẢNH ĐÀO\ẢNH NĂM 2019\Ảnh các giống cây đào 30.7.2019\IMG20190730101729.jpg

Description: E:\ĐT Đào Lê\Ảnh chỉ tiêu cơ giới THLai 27.4.2020\IMG20200427104257.jpg

Hình 1,2: Giống đào B115

3.2. Thời gian xuất hiện, kích thước các đợt lộc của các giống đào trồng tại xã Công Sơn huyện Cao Lộc

Bảng 2. Thời gian xuất hiện các đợt lộc của các giống đào nhập nội

Chỉ tiêu

 

 

 

 

Giống đào

Lộc xuân

Lộc hè

Lộc thu

Thời gian

xuất

hiện lộc (ngày, tháng)

Thời gian lộc thành thục

(ngày, tháng)

Thời gian bắt đầu - kết thúc (ngày)

Thời gian xuất hiện lộc

(ngày, tháng)

Thời gian lộc thành thục

(ngày, tháng)

Thời gian bắt đầu - kết thúc (ngày)

Thời gian xuất hiện lộc

(ngày, tháng)

Thời gian lộc thành thục

(ngày, tháng)

Thời gian bắt đầu - kết thúc (ngày)

Năm 2019

Mẫu Sơn

25 - 27/2

25 - 30/3

30 - 33

10 - 14/4

11 - 16/5

31 - 32

11 - 15/7

11 - 13/8

30 - 32

Nectarin

22 - 24/1

21 - 24/2

29 - 30

1 - 3/4

1 - 5/5

30 - 32

5 - 7/7

5 - 8/8

30 - 31

A2-2-29

23 - 24/1

25 - 27/2

32 - 33

3 - 5/4

1 - 4/5

27 - 29

7 - 10/7

6 - 8/8

29 - 30

B115

22 - 24/1

21 - 26/2

29 - 32

2 - 6/4

2 - 5/5

29 - 30

6 - 8/7

5 - 6/8

29 - 30

Năm 2020

Mẫu Sơn

1 - 3/3

2 - 5/4

31 - 32

15 - 20/4

14 - 21/5

29 - 31

13 - 15/7

12 - 15/8

29 - 30

Nectarin

7 - 11/2

8 - 12/3

29 - 30

3 - 5/4

2 - 5/5

29 - 30

4 - 7/7

5 - 7/8

30 - 31

A2-2-29

8 - 10/2

11 - 12/3

31 - 32

3 - 6/4

1 - 5/5

29 - 30

3 - 7/7

5 - 8/8

30 - 31

B115

9 - 11/2

11 - 13/3

30 - 32

1 - 6/4

2 - 6/5

29 - 30

5 - 8/7

4 - 6/8

28 - 29

Từ bảng 2 cho thấy các giống đào đều có 3 đợt lộc/năm. Lộc xuân xuất hiện sau khi kết thúc nở hoa, lộc xuân xuất hiện sớm hay muộn phụ thuộc vào thời gian nở hoa và thời tiết hàng năm. Năm 2019 thời tiết ấm, hoa nở sớm và lộc xuân cũng xuất hiện sớm hơn năm 2020 trên tất cả các giống đào trồng mới.

Các giống đào nhập nội có thời gian xuất hiện các đợt lộc (xuân, hè, thu) sớm hơn so với giống đào Mẫu Sơn. Cụ thể: Lộc xuân từ 12 - 13 ngày, lộc hè từ 7 - 9 ngày, lộc thu từ 4 - 6 ngày (năm 2019). Tương tự năm 2020, lộc xuân từ 21 - 23 ngày, lộc hè từ 12 - 15 ngày, lộc thu từ 8 - 10 ngày.

Bảng 3. Kích thước các đợt lộc của các giống đào nhập nội

Chỉ tiêu

 

Giống đào 

Lộc xuân

Lộc hè

Lộc thu

Chiều dài lộc (cm)

ĐK lộc

(cm)

Số lá/lộc (lá)

Chiều dài lộc (cm)

ĐK lộc

(cm)

Số lá/lộc (lá)

Chiều dài lộc (cm)

ĐK lộc

(cm)

Số lá/lộc (lá)

Năm 2019

Mẫu Sơn

25,2

0,42

18,6

26,1

0,44

18,4

17,8

0,41

13,2

Nectarin

24,6

0,45

19,6

24,5

0,42

19,3

18,2

0,39

15,3

A2-2-29

24,3

0,4

18,7

25,7

0,47

20,5

19,6

0,41

15,8

B115

23,4

0,44

17,5

24,3

0,41

21,3

17,1

0,44

14,1

LSD0,05

4,0

0,43

1,84

4,0

0,74

2,3

3,3

0,6

1,9

CV (%)

8,3

9,1

11,0

8,0

8,5

7,9

9,8

7,5

10,4

Năm 2020

Mẫu Sơn

26,1

0,43

20,3

26,9

0,43

20,1

18,5

0,39

15,6

Nectarin

25,3

0,41

21,4

25,1

0,47

19,5

19,1

0,41

14,7

A2-2-29

26,5

0,42

19,5

25,8

0,44

21,3

18,2

0,39

13,9

B115

24,8

0,4

22,4

24,3

0,45

18,4

17,9

0,42

15,8

LSD0,05

4,0

0,56

4,1

5,1

0,43

5,7

5,7

0,12

3,9

CV (%)

9,0

7,8

11,3

11,5

9,6

10,6

8,9

11,4

12,0

Thông thường các loại cây ăn quả sẽ xuất hiện 4 đợt lộc trong năm: lộc (xuân, hè, thu, đông) nhưng ở cây đào lại có một chút khác biệt so với các cây trồng khác, mùa đông đào sẽ rụng lá, bước vào giai đoạn ngủ nghỉ, phân hóa mầm hoa để chuẩn bị cho vụ hoa của năm sau. Theo dõi khả năng sinh trưởng cho thấy các giống đào nhập nội đều thích nghi với điều kiện khí hậu, thời tiết tại huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Các đợt lộc (xuân, hè, thu) sinh trưởng tương đối đồng đều, chiều dài lộc, đường kính lộc, số lá/lộc của các giống đào không có sự khác biệt nhiều, cụ thể:

Lộc xuân và lộc hè sinh trưởng khỏe: Chiều dài lộc trung bình từ 23,4 - 26,9 cm, số lá/lộc trung bình 18,4 - 22,4 lá. Lộc thu có chiều dài cành nhỏ hơn, số lá/lộc cũng ít hơn so với lộc xuân và lộc hè.

3.3. Khả năng ra hoa, tỷ lệ đậu quả và năng suất của các giống đào trồng tại xã Công Sơn huyện Cao Lộc

Bảng 4. Thời gian xuất hiện, nở rộ và kết thúc nở hoa của các giống đào nhập nội

TT

Tên giống

Năm 2019

Năm 2020

Thời gian hoa bắt đầu nở

Thời gian hoa nở rộ

Thời gian kết thúc nở hoa

Thời gian hoa bắt đầu nở

Thời gian hoa nở rộ

Thời gian kết thúc nở hoa

1

Mẫu Sơn

10 - 12/2

17 - 20/2

23 - 27/2

23 - 25/2

1 - 3/3

    7 - 10/3

2

Nectarin

13 - 16/1

20 - 23/1

27 - 30/1

28 - 30/1

5 - 7/2

12 - 14/2

3

A2-2-29

15 - 18/1

22 - 25/1

29/1 - 2/2

26 - 29/1

3 - 5/2

10 - 12/2

4

B115

13 - 17/1

20 - 24/1

27/1 - 1/2

27 - 30/1

4 - 6/2

10 - 12/2

Thời điểm nở hoa của các giống đào phụ thuộc theo thời tiết và tùy thuộc vào đặc điểm từng giống, các giống đào nhập nội Nectarin, A2-2-29 và giống B115 có thời gian nở hoa sớm hơn so với giống đào Mẫu Sơn khoảng từ 25 - 28 ngày. Thời gian bắt đầu nở hoa, kết thúc nở hoa của các giống đào nhập nội chênh lệch nhau không đáng kể chỉ 1 - 3 ngày. Năm 2019 do thời tiết ấm nên thời gian ra hoa của các giống đào sớm hơn năm 2020.

Bảng 5. Khả năng ra hoa, tỷ lệ đậu quả của các giống đào nhập nội (năm 2020)

Chỉ tiêu

 

Giống đào

Số cành

lộc ra hoa/cây (cành)

Tỷ lệ cành ra hoa

Tổng số hoa/cành (hoa)

Số quả đậu/cây

Tỷ lệ đậu quả

(%)

Arcsin

(%)

Arcsin

Mẫu Sơn

35,4

84,9

67,13

29,2

24,8

2,40

8,91

Nectarin

30,4

82,6

65,35

22,1

23,4

3,17

10,26

A2-2-29

35,2

89,1

70,72

25,4

31,7

3,54

10,84

B115

34,1

84,8

67,05

22,2

27,3

3,60

10,94

LSD0,05

1,28

 

4,5

 

1,4

 

1,21

CV (%)

7,9

 

8,3

 

9,6

 

10,5

Kết quả bảng 5 cho thấy: Các giống đào nhập nội có khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái vùng trồng. Sau 2 năm trồng, sinh trưởng khỏe, đều ra hoa và bắt đầu cho bói quả. Trong đó giống đào A2-2-29 có tỷ lệ cành ra hoa 89,1%, số quả đậu 31,7 quả/cây và tỷ lệ đậu quả cao nhất có ý nghĩa so với các giống còn lại, thấp nhất là giống đào Nectarin tỷ lệ cành ra hoa 82,6%, tỷ lệ đậu quả 3,17%, số quả đạt 23,4 quả/cây.

Giống đào Mẫu Sơn sinh trưởng tốt hơn so với các giống đào nhập nội nhưng lại có tỷ lệ đậu quả thấp nhất chỉ đạt 2,4%.

Description: E:\ĐT DAO MAU SON. 2017\ẢNH ĐÀO\ẢNH NĂM 2019\Ảnh các giống cây đào 30.7.2019\IMG20190730100538.jpg