Skip to main content
Quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 
Chế độ ban đêm In trang Xuất PDF Đọc nội dung
-A A +A

Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ bảo tồn các loài hoang dã và các giống vật nuôi, cây trồng nguy cấp, quý hiếm trên địa bàn tỉnh

Theo số liệu thống kê sơ bộ, trên địa bàn tỉnh có khoảng 14,9% số loài động vật và 5,63% số loài thực vật là các loài quý, hiếm đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau, từ mức độ loài sẽ nguy cấp, phụ thuộc vào hoạt động bảo tồn đến mức độ tuyệt chủng ngoài thiên nhiên (EW) do các hoạt động khai thác, săn bắn quá mức, sự thu hẹp diện tích sinh sống và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội hay sự cố tai biến thiên nhiên khác. Để bảo tồn sự đa dạng sinh học và bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học; triển khai thực hiện các nhiệm vụ về bảo tồn các khu rừng đặc dụng, loài động vật hoang dã, nguy cấp quý hiếm được ưu tiên bảo vệ, trong đó chú trọng việc nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ.

 

Description: C:\Users\Tinh Tu Computer\Desktop\IMG_20191101_082859.jpg

Mô hình ứng dụng tiến bộ KHKT phục tráng và phát triển giống Dứa bản địa tại huyện Hữu Lũng

 

Theo đó các nhiệm vụ được triển khai thực hiện như: Nghiên cứu tạo giống bảo tồn loài Hoàng Đàn: Điều tra nguồn cây giống Hoàng đàn trong Khu dự trữ thiên nhiên Hữu Liên: Số lượng, tình trạng các cá thể Hoàng đàn ngoài tự nhiên là 7 cây và số lượng cá thể Hoàng đàn trong vườn của dân là 83 cây; bản đồ thể hiện sự phân bố loài Hoàng đàn 1/10.000; Lựa chọn được 6 cây mẹ có triển vọng đạt điểm của cây trội. Đã hoàn thành xây dựng nhà ươm Hoàng đàn với diện tích 80 m2 để phục vụ gieo, ươm. Hiện nay đang tiếp tục nhân giống và theo dõi…

Điều tra, khảo sát, đánh giá đa dạng sinh học khu hệ  thực vật và xác định, đề xuất các giải pháp bảo tồn nguồn gen thực vật nguy cấp, quý hiếm: Năm 2019, Ban quản lý rừng đặc dụng Hữu Liên đã thực hiện dự án Điều tra đa dạng hệ thực vật rừng đưa vào bảo tồn tại rừng đặc dụng Hữu Liên. Kết quả đã xây dựng được bộ danh lục thực vật Hữu Liên với 961 loài, 606 chi, 168 họ của 5 ngành thực vật có mạch. Đối chiếu với sách đỏ Việt Nam - 2007, IUCN - 2019 và Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 đã thống kê được 77 loài, chiếm 8,01 % phân bố trong 62 chi, 37 họ ở 3 ngành thực vật bậc cao có mạch, trong đó: Sách đỏ Việt Nam 2007 có 41 loài, danh lục đỏ IUCN 2019 có 10 loài và Nghị định 06/2019/NĐ-CP có 49 loài.

20201023_115656.jpg

 

Mô hình phát triển vườn ươm giống Sa nhân tím tại Huyện Đình Lập

 

Thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng, bảo tồn các giống cây trồng, vật nuôi bản địa như:

Về cây trồng Nông nghiệp: Tập trung lưu giữ đối với các sản phẩm đặc thù, đặc sản của địa phương đồng thời phục tráng, tạo các cây đầu dòng, cây ưu tú làm nguồn vật liệu nhân giống cây trồng đối với các giống bản địa, đặc sản chất lượng cao như: quýt Bắc Sơn, quýt Tràng Định, đào Mẫu Sơn, na Chi Lăng, mít Hữu Lũng, dứa Hữu Lũng, hồng vành khuyên Văn Lãng, hồng không hạt Bảo Lâm, thanh long ruột đỏ Bình Gia, khoai môn Tràng Định,... ngoài ra còn các cây có giá trị kinh tế là các sản phẩm ở một số vùng sản xuất nguyên liệu tập trung như thạch đen huyện Tràng Định, thuốc lá huyện Bắc Sơn, chè huyện Đình Lập, cây Đào chuông huyện Đình Lập,...

Về cây Lâm nghiệp: thông qua các nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ đã xây dựng được các mô hình phát triển cây lâm nghiệp đồng thời cũng góp phần lưu giữ bảo tồn các cây lâm nghiệp có giá trị tại địa phương như: cây hồi tại các huyện: Bình Gia, Văn Quan; cây thông tại các huyện: Đình Lập, Lộc Bình; cây vối thuốc, cây dứa dại tại khu du lịch Mẫu Sơn; cây trám đen tại huyện Hữu Lũng; cây mác mật tại huyện Bình Gia; cây quế tại huyện Tràng Định,... Qua đó xác định phương pháp bảo tồn, thúc đẩy quá trình khai thác sử dụng hiệu quả bảo tồn bền vững và phát triển nguồn gen cây rừng có giá trị tại địa phương.

Về cây Dược liệu: Đã tiến hành khảo sát điều tra thành phần, số lượng và sơ bộ trữ lượng một số loài dược liệu chính của tỉnh Lạng Sơn thông qua đề tài Điều tra một số loại dược liệu chính của tỉnh Lạng Sơn và đề tài Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ xây dựng vùng bảo tồn gen cây dược liệu và Quy hoạch phát triển dược liệu đến năm 2025 và định hướng đến năm 2035 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Qua điều tra nghiên cứu đã phát hiện và ghi nhận được 933 loài cây thuốc mọc tự nhiên, thuộc 564 chi, 186 họ thuộc 6 ngành thực vật và nấm có giá trị làm thuốc. Các đề tài đã nghiên cứu đánh giá hiện trạng tiềm năng khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên dược liệu của tỉnh Lạng Sơn làm cơ sở khoa học phục vụ xây dựng vùng bảo tồn gen cây dược liệu và Quy hoạch phát triển dược liệu đến năm 2025 và định hướng đến năm 2035. Xây dựng danh lục cây thuốc Lạng Sơn, danh lục loài cây thuốc cần bảo vệ, các loài cây thuốc có tiềm năng. Đề xuất giải pháp khai thác và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên dược liệu, trong đó có 50 loài cây thuốc thuộc diện bảo tồn, 14 loài/trên nhóm loài có tiềm năng khai thác, 16 loài/nhóm loài có tiềm năng phát triển thành hàng hóa. Ngoài ra còn một số đề tài ứng dụng khoa học và công nghệ xây dựng các mô hình trồng và phát triển các loài cây có giá trị kinh tế cao như: Lan Thạch hộc, Lan Kim tuyến, Sa nhân tím, Ba kích, Bảy lá một hoa, trà hoa vàng, gừng đá...

Về vật nuôi và thủy sản: Một số giống bản địa quý, hiếm như: Gà 6 ngón Mẫu Sơn, dúi, ếch hương Mẫu Sơn cũng đã được khảo sát thu thập phục vụ bảo tồn và phát triển nguồn gen quý bản địa. Năm 2019, Lạng Sơn đã được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt dự án Ứng dụng khoa học kỹ thuật xây dựng mô hình sản xuất giống và chăn nuôi ngựa bạch tại tỉnh Lạng Sơn thuộc Chương trình Hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 – 2025, thời gian thực hiện dự án từ năm 2020. Mục tiêu nghiên cứu của dự án là ứng dụng thành công các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất giống và chăn nuôi ngựa bạch góp phần phát triển kinh tế xã hội.

Việc nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ đối với các đối tượng trên nhằm chủ động được nguồn giống, bảo tồn đa dạng sinh học, da dạng hóa giống loài nuôi, đem lại hiệu quả kinh tế cao, tạo công ăn việc làm góp phần xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh./.

                                                                                  Hoàng Minh Luỹ

(Tổng hợp)