Skip to main content
Quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 
Chế độ ban đêm In trang Xuất PDF Đọc nội dung
-A A +A

Khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số

Lạng Sơn là tỉnh miền núi, biên giới phía Đông Bắc của Tổ quốc, có đường biên giới tiếp giáp với Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây (Trung Quốc) dài 231,74 km; diện tích tự nhiên 8.310,9 km2; tỉnh có 10 huyện, 01 thành phố loại II, với 200 xã, phường, thị trấn (trong đó: 31 xã khu vực I, 57 xã khu vực II, 112 xã khu vực III), trong đó có 107 xã đặc biệt khó khăn, 04 xã an toàn khu, 03 xã biên giới, 83 thôn đặc biệt khó khăn của 24 xã khu vực II thuộc diện đầu tư Chương trình 135; dân số hơn 78 vạn người, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 82,97% dân số (trong đó: Nùng chiếm 41,91%; Tày 35,43%; Kinh 16,99%; Dao 3,5%; Hoa 0,29%; Sán chay 0,6%; Mông 0,17%; dân tộc khác 0,11%); trên 80% dân số sản xuất nông, lâm nghiệp ở khu vực nông thôn.

          Hoạt động khoa học và công nghệ trong những năm qua trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã bám sát chủ trương, định hướng chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Kết quả từ các hoạt động nghiên cứu, triển khai, ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống đã đóng góp tích cực phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ được triển khai trên một số lĩnh vực phù hợp với đặc điểm của tỉnh. Các đề tài, dự án khoa học và công nghệ đã góp phần tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh và hiệu quả cao đối với cây trồng, vật nuôi chủ lực, đặc sản có thế mạnh của tỉnh. Doanh nghiệp và người dân đã chủ động, tích cực ứng dụng khoa học và công nghệ, đưa các loại giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng và ứng dụng quy trình công nghệ mới vào sản xuất, chế biến nông, lâm sản, đồng thời cơ giới hóa một số khâu trong lĩnh vực trồng trọt, chế biến nông lâm sản. Đẩy mạnh công tác xây dựng và phát triển tài sản trí tuệ cho các sản phẩm nông, lâm sản, đặc sản của tỉnh, qua đó góp phần quảng bá và đưa các sản phẩm của tỉnh vào tiêu thụ tại thị trường trong và ngoài nước. Cụ thể:

Về lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn: Công tác triển khai các đề tài, dự án trong lĩnh vực này tập trung vào nghiên cứu ứng dụng chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ về giống và quy trình kỹ thuật canh tác, chăn nuôi mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm đối với các cây trồng vật nuôi chủ lực, đặc sản có thế mạnh của địa phương; các giống cây trồng, vật nuôi mới, có lợi thế cạnh tranh; nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ xây dựng các mô hình sản xuất hiệu quả phục vụ sản xuất, đời sống của đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh; tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm nông, lâm sản của địa phương nhằm phát triển thị trường tiêu thụ, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm để đảm bảo sản phẩm nông nghiệp của tỉnh có sức cạnh tranh trên thị trường.

Về trồng trọt - Bảo vệ thực vật: đã ứng dụng các biện pháp kỹ thuật nhân giống, khảo nghiệm, chọn lọc được nhiều giống cây trồng có năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện sinh thái, thổ nhưỡng như tổ hợp lúa lai, ngô lai,  giống khoai tây, lạc, đỗ tương, xoài, chuối tiêu hồng, khoai môn,... các kết quả nghiên cứu đã được chuyển giao cho bà con nông dân áp dụng, góp phần tăng năng suất cây trồng, nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất. Công nghệ nhân giống được áp dụng rộng rãi để phát triển nhiều loài cây ăn quả, cây hoa quý. Quy trình công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật đã được triển khai và đạt được những thành công nhất định. Ứng dụng tiến bộ công nghệ sinh học trong nuôi cấy mô tế bào thực vật giúp bảo tồn và nhân nhanh nhiều giống cây trồng đặc hữu, có giá trị kinh tế. Hằng năm đã sản xuất hàng trăm ngàn cây giống phục vụ sản xuất.

Ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật mới, phù hợp với trình độ canh tác của nông dân và xây dựng mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất theo hướng hàng hóa đối với nhiều loại cây trồng như: Quýt, Bưởi, Xoài, Thanh Long, Đào, Táo....; các đề tài, dự án điển hình: nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh, xử lý giảm hạt nâng cao năng suất và chất lượng Quýt Bắc Sơn; nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, phục tráng và phát triển giống Mít bản địa tại huyện Hữu Lũng; nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, phục tráng và phát triển giống Dứa bản địa tại huyện Hữu Lũng; xây dựng mô hình trồng Thanh Long ruột đỏ tại huyện Bình Gia; nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng các mô hình trồng Cam, Bưởi giống mới tại huyện Bắc Sơn; nghiên cứu trồng thử nghiệm một số dòng, giống Bơ trong nước và nhập nội, xây dựng mô hình trồng mới theo hướng sản xuất hàng hóa; xây dựng mô hình trồng Táo Đài Loan theo hướng hàng hóa tại huyện Hữu Lũng; phục tráng giống Đào ăn quả Mẫu Sơn và phát triển một số giống Đào mới tại khu Du lịch Mẫu Sơn; xây dựng mô hình sản xuất Măng tây xanh gắn với tiêu thụ sản phẩm tại huyện Lộc Bình; xây dựng mô hình trồng Xoài ăn xanh tại huyện Hữu Lũng,...

Ngoài ra, còn ứng dụng chuyển giao các kết quả, công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật liên quan như: nghiên cứu một số sâu, bệnh hại đối với cây trồng; nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác rải vụ Na; nghiên cứu ứng dụng chế phẩm sinh học để kéo dài thời gian chín của quả Na tại huyện Chi Lăng,... qua đó, xây dựng được các quy trình phòng trừ có hiệu quả và các biện pháp kỹ thuật thâm canh bền vững để phổ biến, tuyên truyền đến người dân trên địa bàn áp dụng vào trong quá trình sản xuất nhằm tăng năng suất cây trồng và hiệu quả kinh tế.

Về Lâm nghiệp: tập trung vào ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến và chuyển giao quy trình công nghệ, các quy trình lâm sinh để áp dụng tại địa phương, nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng, phát triển lâm nghiệp đa chức năng, lâm sản ngoài gỗ, nhất là các loại dược liệu, góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, như: chuyển giao kỹ thuật phòng trừ sâu róm hại Thông tại huyện Đình Lập; nghiên cứu biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại Hồi; mô hình trồng số giống Bạch Đàn giống mới năng suất, chất lượng cao; tuyển chọn cây Trám đen ưu tú, xây dựng mô hình nhân giống, trồng mới và thâm canh Trám đen; xây dựng mô hình trồng Sa nhân tím; nghiên cứu nhân giống, trồng thâm canh và chế biến Măng Bát Độ; xây dựng mô hình sản xuất cây Lan Kim Tuyến; cây trà Hoa Vàng; nghiên cứu, phát triển cây Đào Chuông; nghiên cứu giá trị dinh dưỡng, dược học của cây Mác mật và sản xuất một số sản phẩm từ cây Mác mật,...

 Mô hình rồng cam tại xã Nhất Tiến huyện Bắc Sơn

Về Chăn nuôi, thú y: nghiên cứu, tiếp nhận và chuyển giao ứng dụng các công nghệ về chăn nuôi, xây dựng các mô hình chăn nuôi hiệu quả, điển hình như các đề tài: nghiên cứu xây dựng mô hình chăn nuôi gà sáu ngón Mẫu Sơn; xây dựng mô hình gà ri lai tại một số xã khó khăn, biên giới; xây dựng mô hình nuôi lợn nái Móng Cái...; các kết quả nghiên cứu bước đầu được chuyển giao cho các hộ nông dân áp dụng vào thực tiễn cuộc sống, đưa những giống vật nuôi mới vào sản xuất, tạo ra nhiều nguồn thu nhập cho người dân, xây dựng được các quy trình kỹ thuật về chăn nuôi, phòng trị bệnh để các hộ nông dân học tập, góp phần phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh. Đồng thời sử dụng rộng rãi công nghệ biogas, công nghệ đệm lót sinh học và các chế phẩm sinh học trong chăn nuôi, chế biến và bảo quản nông lâm sản thực phẩm, sản xuất thức ăn chăn nuôi, xử lý các phụ phẩm, phế phẩm, chất thải từ sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chế biến.

Về  Đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm nông, lâm sản:

Cùng với tăng cường triển khai các hoạt động nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ, tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất thì việc xác lập, quản lý và phát triển quyền sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm nông, lâm đặc sản của địa phương cũng được ưu tiên thực hiện nhằm nâng cao nhận thức cho các tổ chức, cá nhân về sở hữu trí tuệ (nhãn hiệu, thương hiệu hàng hóa...); phát triển thị trường tiêu thụ, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm để đảm bảo sản phẩm nông nghiệp của tỉnh có sức cạnh tranh trên thị trường, cụ thể như: hoàn thành việc xây dựng và bảo hộ đối với: 02 chỉ dẫn địa lý (Hồng Bảo Lâm; Hoa Hồi Lạng Sơn); 02 nhãn hiệu chứng nhận (Na Chi Lăng; Rau thành phố Lạng Sơn); 21 nhãn hiệu tập thể (Rượu Mẫu Sơn; Hồng Vành khuyên Văn Lãng; Thạch đen Tràng Định, Quýt vàng Bắc Sơn, Mỳ cao khô Vạn Linh, Thanh Long Bình Gia....). Việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm đặc sản nêu trên đã tích cực phát huy danh tiếng, uy tín của sản phẩm, bảo hộ cho những người sản xuất, kinh doanh; bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng và góp phần thúc đẩy nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị hàng hóa sản phẩm.

Về lĩnh vực văn hóa - xã hội và giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng đời sống văn hóa của người dân

 Tập trung nghiên cứu các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc trên địa bàn tỉnh, đóng góp căn cứ khoa học, góp phần lý giải, làm sáng tỏ nhiều vấn đề lịch sử, văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc và đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị tốt đẹp trong cuộc sống; nghiên cứu ứng dụng các giải pháp chỉ đạo, định hướng và quy hoạch phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của tỉnh như: nghiên cứu tìm ra các giải pháp nâng cao nhận thức và thực hành văn hóa giao thông trong đoàn viên, thanh niên nhằm xây dựng nét văn hóa khi tham gia giao thông trong đoàn viên, thanh niên góp phần giảm thiểu vi phạm và tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh; nghiên cứu giải pháp phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại một số địa bàn của tỉnh; nghiên cứu một số giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp cận và áp dụng có hiệu quả các cơ chế chính sách ưu đãi của nhà nước; nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra các vụ mua bán người qua biên giới tỉnh Lạng Sơn; nghiên cứu một số giải pháp nhằm ngăn chặn, hạn chế tình trạng công dân Lạng Sơn xuất cảnh trái phép qua biên giới Lạng Sơn; ứng dụng công nghệ thông tin quảng bá và tiêu thụ các sản phẩm nông sản của tỉnh Lạng Sơn,...

Về giáo dục và đào tạo, chú trọng nghiên cứu các giải pháp phát triển giáo dục, nhất là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo học sinh, sinh viên và khuyến khích phong trào nghiên cứu khoa học, sáng tạo, sáng kiến trong hệ thống trường học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở các cấp học, cụ thể như: nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy và học, biên soạn tài liệu dạy học địa phương, nâng cao chất lượng phân luồng học sinh sau trung học cơ sở, các giải pháp phát triển bền vững giáo dục tại các khu vực khó khăn và biên giới,… qua đó đã nghiên cứu xây dựng được các chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với yêu cầu thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

Lĩnh vực y dược, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân

Với mục tiêu nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng khám, chẩn đoán, điều trị bệnh nhằm nâng cao chất lượng khám, chẩn đoán, điều trị bệnh tại Lạng Sơn, đồng thời nghiên cứu ứng dụng các bài thuốc y học cổ truyền, phát huy kiến thức bản địa của người dân trong điều trị bệnh, trong thời gian qua đã ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào công tác điều trị và phòng chống dịch bệnh, góp phần hạ thấp tỷ lệ tử vong, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả điều trị, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho Nhân dân; dự báo khả năng diễn biến một số bệnh mang tính xã hội cao. Đã tập trung nghiên cứu tiếp thu một số kỹ thuật tiên tiến được đưa vào điều trị bệnh tại bệnh viện như: kỹ thuật nẹp vít qua cuống để điều trị gãy xương cột sống lưng - thắt lưng; kỹ thuật điều trị thoát vị bẹn bằng phẫu thuật nội soi ổ bụng đặt lưới; kỹ thuật kết hợp dẫn lưu não thất và sử dụng thuốc tiêu huyết khối Alteplaser trong điều trị giãn não thất cấp do chảy máu não thất,... các giải pháp phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính; giải pháp phòng chống hôn nhân cận huyết. Đồng thời tiến hành điều tra xây dựng cơ cở dữ liệu về thực trạng cây thuốc của tỉnh phục vụ cho công tác quy hoạch và đề xuất giải pháp bảo tồn nguồn gen cây dược liệu của tỉnh.

Lĩnh vực kỹ thuật công nghệ

Với mục tiêu nghiên cứu cải tiến và đổi mới công nghệ, lựa chọn công nghệ thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, tạo ra các sản phẩm hàng hóa có chất lượng và khả năng cạnh tranh cao trong nước và xuất khẩu; nghiên cứu - ứng dụng các nguồn năng lượng mới, năng lượng mặt trời, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch; các biện pháp sử dụng năng lượng hợp lý và tiết kiệm; nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, bảo vệ tài nguyên môi trường; ng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến trong việc giảm thiểu ô nhiễm, khắc phục sự cố môi trường... Trong những năm qua các kết quả nghiên cứu đã đem lại một số hiệu quả đáng khích lệ nhằm nâng cao năng suất chất lượng, tăng hiệu quả trong sản xuất như: nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật sấy thuốc lá; sấy hồi, sưởi ấm cho lợn... theo hướng tiết kiệm năng lượng không gây ô nhiễm môi trường; các kỹ thuật bảo quản, kéo dài thời gian thu hoạch, chế biến nông, lâm sản như Quýt, Na, chế biến gỗ Thông,... Ứng dụng công nghệ để sản xuất gạch không nung, làm đường giao thông nông thôn từ tro, xỉ của nhà máy nhiệt điện Na Dương nhằm giảm thiểu ô nhiễm và tiết kiệm chi phí,...