Skip to main content

Chủ nhiệm đề tài: ThS. Trần Đại Dũng. Đơn vị thực hiện: Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Lạng Sơn. Thời gian thực hiện: 2015 - 2017. Lĩnh vực nghiên cứu: Nông nghiệp.

I. Mục tiêu:

Xác định thành phần, mức độ phổ biến của sâu bệnh hại chính trên quả na và đề xuất các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại quả na theo hướng bền vững tại huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

II. Kết quả nghiên cứu:

Đề tài đã thu thập được 45 loài côn trùng gây trên cây na tại Chi Lăng, đã giám định và xác định được 35 loài gây hại na. Trong đó có 2 loài gây hại quan trọng là bọ phấn trắng Pealius amamianus và ruồi đục quả Bactrocera dorsalis; Đã xác định được 20 loài thiên địch trên cây na, trong đó giám định được 19 loài; Đã xác định được 8 loài bệnh hại trên cây na, giám định 6 loài bệnh đến loài và giống. Trong 8 loài trên thì bệnh thán thư và bệnh đen quả là 2 loài quan trong xuất hiện phổ biến trên na; Đã xác định được thời gian phát dục của ruồi đục quả có 4 pha (trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành) sâu non có 3 tuổi thời gian phát dục khoảng 23 ngày. Vòng đời của ruồi đục quả dao động trong khoảng 35-70 ngày. Thời gian sống của trưởng thành cái trung bình 80 ngày, trưởng thành đực là 85 ngày. Xác định được khả năng sinh sản của ruồi, 1 ruồi cái có thể đẻ được 30-630 quả trứng ở nhiệt độ 22,06oC, ẩm độ 80,13%; Đã xác định được đặc điểm sinh học của bọ phấn, sâu non có 3 tuổi thời gian phát dục là 4-10 ngày. Vòng đời bọ phấn dao động trong khoảng 7-23 ngày, tuổi thọ của trưởng thành cái cao hơn trưởng thành đực, con cái có thời gian sống 19-62 ngày, đực 16-50 ngày. Trưởng thành cái bọ phấn trung bình đẻ được 26,27 quả trứng ở nhiệt độ 27,7oC, ẩm độ 78,53%. Bọ phấn có tỷ lệ hoàn thành các pha phát dục khá cao dao động từ 91-96%; Ruồi đục quả bắt đầu xuất hiện trên vườn na từ tháng 5 năm trước và giảm dần cho tới tháng 5 năm sau. Mật độ thời gian đầu rất thấp từ 0,15-0,45 con/ bẫy, sau đó tăng dần lên 18,55-40,85 con/ bẫy, cao điểm tháng 8 mật độ ruồi đạt 79,25 con/ bẫy; Bọ phấn gây hại trên na tập trung chủ yếu từ tháng 7 đến tháng 12. Một năm có 3-4 đỉnh cao về mật độ. Mật độ đạt cao nhất trong các đỉnh cao vào tháng 9 trung bình 242 con/ lá; Bệnh đen quả na xuất hiện từ khi na có quả cuối tháng 4 đến cuối tháng 9, bệnh đen quả gây hại nặng vào giữa tháng 7 tỉ lệ bệnh lên tới 8% và kết thúc cuối tháng 9 khi thu hoạch na xong; Bệnh thán thư gây hại chủ yếu trên lá na thời gian gây hại nặng từ cuối tháng 4 đến tháng 12, cao điểm bệnh vào cuối tháng 8 tỉ lệ bệnh lên tới 0,145%; Bao quả na 30 ngày sau khi thụ phấn cho hiệu quả phòng trừ ruồi đục quả 100%; Đặt bẫy vàng với thuốc dẫn dụ ruồi Vizubon-D kết hợp với phun bả sinh học Ento-Pro 150 DD đạt hiệu quả phòng trừ ruồi cao nhất trên 85%; Sử dụng thuốc sinh học Sukupi 0.36 SL đạt hiệu quả phòng trừ bọ phấn cao trên 80%. Thuốc hóa học Penalty 40WP, Checsusa 500WP và thuốc Regent 800WG đều cho hiệu quả phòng trừ bọ phấn trên 82%; Thuốc Antracol 70WP, Tilt-Super 300EC, Amistar top 325SC phòng trừ bệnh thán thư và đen quả sau 21 ngày đều đạt hiệu quả phòng trừ bệnh trên 71%; Đề tài đã xây dựng thành công 2 mô hình tại Chi Lăng và Hữu Lũng mỗi mô hình 0,5ha, trung bình 01 ha cho lợi nhuận cao hơn so với sản xuất của nông dân trên 20 triệu đồng; Đề tài đã đào tạo được 1 thạc sĩ chuyên ngành Bảo vệ thực vật bảo đã vệ luận án thành công vào ngày 26/10/2017; Đề tài đã tiến hành tổ chức được 1 buổi hội thảo, mở 2 lớp tập huấn để chuyển giao các kết quả đã nghiên cứu vào sản xuất cho hơn 200 lượt người tại 2 huyện Chi Lăng, Hữu Lũng; Đề tài đã đăng được một số chuyên mục trên đài truyền hình tỉnh về kỹ thuật phòng chống sâu bệnh hại quả na. Đã xây dựng được 70 bộ tài liệu về kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại quả na. Đặc biệt đăng được 2 bài báo trên tạp chí BVTV, tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (đã có quyết định đăng). Ngoài ra đề tài cũng đã bổ sung thêm cho bộ mẫu quốc gia nhiều loài sâu bệnh và thiên địch mới.

III. Tổng kinh phí thực hiện:

- 898.300.000 đồng từ nguồn ngân sách sự nghiệp khoa học

Nguồn tin: Theo Báo cáo Đề tài