Skip to main content
Quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 

Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thanh Tùng. Đơn vị thực hiện: Trung tâm Thủy sản tỉnh Lạng Sơn. Thời gian thực hiện: 2014 - 2017. Lĩnh vực nghiên cứu: Nông nghiệp.

I. Mục tiêu:

Nuôi thử nghiệm cá trắm đen thương phẩm trong ao nhằm đánh giá khả năng thích nghi, khả năng sinh trưởng tại Lạng Sơn. Từ đó bổ sung giống cá trắm đen vào cơ cấu giống thủy sản trên địa bàn tỉnh để nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng mặt nước, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân cũng như phát triển kinh tế của địa phương.

Nuôi thử nghiệm 1600 con cá trắm đen thương phẩm trong ao sử dụng thức ăn công nghiệp viên nổi có hàm lượng protein tổng số là 35%, tiến hành đánh giá khả năng sinh trưởng, tỷ lệ sống, năng suất và khả năng thích nghi của cá trắm đen tại Lạng Sơn. Hoàn thiện quy trình kỹ thuật nuôi cá trắm đen thương phẩm trong ao phù hợp với điều kiện tại Lạng Sơn (quy trình đề xuất).

II. Kết quả nghiên cứu:

Nhằm khảo sát tình hình nuôi trồng thủy sản và đánh giá thực trạng nuôi cá trắm đen trên địa bàn tỉnh, nhóm nghiên cứu đã thực hiện khảo sát tình hình nuôi cá trắm đen tại một số huyện có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn và các huyện có phong trào nuôi trồng thủy sản phát triển. Vào tháng 10/2014 đã cử đoàn khảo sát tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn 5 huyện là Hữu Lũng, Văn Quan, Lộc Bình, Cao Lộc và thành phố Lạng Sơn để sơ bộ đánh giá tình hình nuôi trồng thủy sản và tình hình nuôi cá trắm đen trên địa bàn. Thông qua làm việc với phòng Nông nghiệp và PTNT các huyện, lấy số liệu thống kê và đi khảo sát, phỏng vấn một số hộ dân tại một số điểm có truyền thống nuôi thủy sản, Kết quả: về diện tích: trên toàn tỉnh diện tích đất mặt nước tự nhiên là 8.545ha, trong đó có 1300 ha có thể sử dụng đưa vào nuôi trồng thủy sản. Trên địa bàn có 271 hồ chứa, 692 đập dâng, khoảng 500ha ao nuôi trồng thủy sản của bà con nông dân  Từ năm 2006 đến nay diện tích nuôi trồng thủy sản luôn duy trì ổn định khoảng 1000 đến 1290 ha. Trong đó, huyện Hữu Lũng có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn nhất, huyện Đình Lập có diện tích thấp nhất; Ao nuôi của hộ dân chủ yếu là các ao cũ, việc đầu tư xây dựng ao mới chưa nhiều. Nguồn nước cấp cho các ao nuôi thủy sản chủ yếu từ nguồn nước mưa, nước từ suối, khe, rạch. Một số huyện có địa hình bằng phẳng thì có hệ thống mương máng nội đồng đưa nước vào ao hồ nuôi thủy sản, nhưng số lượng rất ít, diện tích nuôi không lớn; Đoàn đã đi khảo sát thực tế, hỏi thăm tình hình nuôi trồng thủy sản nói chung và hiện trạng nuôi cá trắm đen trên địa bàn. Các điểm đoàn đến khảo sát người dân đều nói có biết loại cá trắm đen, trước đây đã có người thả nhưng thả rất ít, hiện nay không nuôi. Duy có tại thị trấn Văn Quan, huyện Văn Quan có 5 gia đình có thả cá trắm đen, tuy nhiên đây là cá thả thêm, nuôi cho có nhiều loại chứ chưa phải là đối tượng nuôi chính của hộ gia đình, số lượng chỉ 3-5 con/hộ; Tại các hộ được hỏi, đều cho biết cá trắm đen nuôi tại Lạng Sơn rất ít, thi thoảng mới thấy có trong các ao do lẫn vào hoặc xin thêm trong quá trình mua giống. Các hộ nuôi cá lồng tại Văn Quan thì mua thêm để thả vào lồng nuôi chung với cá trắm cỏ, cá chép. Giá cá trắm đen giống thường rất cao, cỡ cá to hơn các loại cá khác. Giống cá của các hộ đang nuôi tại Văn Quan được mua từ Thái Nguyên do các thương lái bán giống cá từ Thái nguyên chuyển sang.

Nhóm nghiên cứu đã đánh giá khả năng sinh trưởng, tình hình dịch bệnh, tiêu tốn thức ăn của cá trắm đen thương phẩm nuôi trong ao tại Lạng Sơn. Xây dựng các thí nghiệm nuôi cá cá Trắm đen thương phẩm trong ao: Lựa chọn hộ nuôi, bố trí thí nghiệm, chuẩn bị các điều kiện ao nuôi, thả con giống, chăm sóc quản lý, theo dõi chỉ đạo, thu thập số liệu, đánh giá khả năng sinh trưởng...

III. Tổng kinh phí thực hiện:

- 482.365.000 đồng từ nguồn ngân sách sự nghiệp khoa học

Nguồn tin: Theo Báo cáo Đề tài