Skip to main content
Quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 

Đồng chủ nhiệm đề tài: BsCKII Nguyễn Lập Cầu. BsCKII Hoàng Thế Hạnh. Đơn vị thực hiện: Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn. Thời gian thực hiện: 2014 - 2016. Lĩnh vực nghiên cứu : Y dược.

I. Mục tiêu:

Đánh giá kết quả điều trị thoát vị bẹn bằng phẫu thuật nội soi qua ổ bụng đặt lưới; Xây dựng quy trình phẫu thuật nội soi ổ bụng đặt lưới.

II. Kết quả nghiên cứu:

          Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các bệnh nhân nam từ 16 tuổi trở lên được chẩn đoán thoát vị bẹn và  điều trị phẫu thuật nội soi qua ổ bụng đặt lưới ngoài phúc mạc tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm tỉnh Lạng Sơn, từ 09/2014 đến 8/2016.

* Tiêu chuẩn lựa chọn: Gồm các bệnh nhân thoát vị bẹn từ độ II, IIIa, IIIb và độ IV theo phân loại của Nyhus (1991) đồng ý chấp nhận điều trị bằng phương pháp mổ nội soi ổ bụng đặt  mảnh lưới ngoài phúc mạc.

          Phương pháp nghiên cứu:

* Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang tiến cứu và theo dõi theo chiều dọc.

* Các bước nghiên cứu: Tiến hành khám sàng lọc bệnh nhân, chẩn đoán xác định, hoàn thành hồ sơ bệnh án, làm thủ tục nhập viện; Thu thập các thông tin cần thiết điền vào bệnh án mẫu; Bệnh nhân được chúng tôi khám, làm hồ sơ bệnh án và trực tiếp tham gia phẫu thuật; Phương pháp trừ đau trong phẫu thuật: Sử dụng phương pháp gây mê nội khí quản; Chúng tôi theo dõi bệnh nhân sau mổ, khám lại sau 1 tuần, 1 tháng và  6 tháng; sau đó điền kết quả vào bệnh án nghiên cứu.

Các trường hợp ở xa không đến được có thể liên lạc qua điện thoại ghi vào phiếu theo dõi. Các thông tin được thu thập theo mẫu biểu định sẵn...

Kết quả xây dựng quy trình phẫu thuật nội soi áp dụng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn. Quá trình thực hiện nghiên cứu phẫu thuật nội soi ổ bụng đặt lưới trị thoát vị bẹn, nhóm nghiên cứu đã chứng minh được những ưu điểm của kỹ thuật nội soi so với phẫu thuật mổ mở điều trị bệnh lý thoát vị bẹn. Những ưu điểm của kỹ thuật: Bệnh nhân đau ít sau mổ; Thời gian nằm viện ngắn, bệnh nhân sớm trở lại cuộc sống sinh hoạt và lao động; Không có biến chứng sau mổ, không có bệnh nhân tái phát bệnh sau phẫu thuật. Quy trình phẫu thuật được cải tiến phù hợp với điều kiện cơ sở: Như sử dụng trocart sắt tiết kiệm chi phí. Không cần khâu đóng lỗ thoát vị, không khâu cố định mảnh ghép mảnh ghép nhân tạo, đã làm giảm đi sự phức tạp trong quá trình thực hiện thao tác kỹ thuật....

III. Tổng kinh phí thực hiện :

- 350.000.000 đồng từ nguồn ngân sách sự nghiệp khoa học

Nguồn tin: Theo Báo cáo Đề tài